CÓ ĐẠO, SỐNG ĐẠO
SUY NIỆM CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN C - 2016
Có
lần nghe ca sĩ Hương Lan hát bài “Lạy Chúa, con là người ngoại đạo” với lời ca: Lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng con tin có Chúa ngự trên cao; tôi
tự hỏi: tại sao là người ngoại đạo mà lại tin là có Chúa ngự trên cao ? Đã tin
có Chúa ngự trên cao là có đạo rồi. Nếu tin Chúa ngự trên cao mà vẫn là ngoại
đạo thì chỉ có nghĩa là có đạo mà không vào đạo đó thôi.
Nói về đạo và sống đạo, tôi thấy trong Phúc Âm
có nhiều câu chuyện tường thuật về những người ngoại đạo nhưng lòng họ thì lại
có đạo.
- Khi Chúa Giêsu vác thập giá lên Núi Sọ, đường
dài, sức nặng của thập giá, kiệt sức vì bị hành hạ, Ngài gục ngã đến ba lần. Kẻ
vác đỡ thập giá cho Chúa là ông Simon người xứ Kyrênê, một người ngoại đạo.
- Khi Chúa Giêsu đến Caphanaum, Viên Bách Quản,
một người ngoại đạo đến gặp và van xin: Thưa
Ngài, tên hầu của tôi nằm liệt bất toại ở nhà đau đớn lắm. Chúa nói: Ta phải đến chữa nó. Viên Bách Quản thưa
lại: Thưa Ngài, tôi không đáng được Ngài
vào nhà tôi, nhưng Ngài hãy phán một lời, đứa hầu nhà tôi sẽ khỏi. Nghe vậy
Chúa Giêsu ngạc nhiên và nói với các kẻ theo Ngài: Quả thật Ta bảo các ngươi, Ta chưa hề gặp được lòng tin lớn như thế nơi
một người nào trong Israel .
- Một lần khác, Chúa Giêsu vào một làng kia, có
mười người phong hủi đến gặp Ngài. Từ đàng xa họ đã lên tiếng thưa: Lạy Thầy Giêsu xin thương xót chúng tôi.
Thấy vậy, Chúa bảo họ: Hãy đi trình diện
với hàng Tư Tế. Và xảy ra là khi họ đi thì họ được lành sạch. Một người
trong bọn họ thấy mình được lành sạch liền quay lại lớn tiếng tôn vinh Thiên
Chúa và sấp mặt dưới chân Ngài mà tạ ơn. Người ấy là một người Samari, người
ngoại đạo. Chúa Giêsu cất tiếng nói: Không
phải là cả mười người được sạch cả sao, chín người kia đâu không thấy họ quay
trở lại mà chúc vinh Thiên Chúa, trừ có người ngoại này?
- Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu kể
dụ ngôn: một người ở Giêrusalem xuống Giêricô, giữa đường bị bọn cướp trấn lột,
đánh cho nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Thầy Tư Tế đi
qua, thấy vậy liền lãng tránh. Thầy Lêvi đi tới cũng chẳng ngó ngàng, bỏ mặc
nạn nhân. Một người ngoại đạo Samari đi ngang, thấy người lâm nạn, chạnh lòng
thương liền băng bó, đặt lên lưng lừa đưa về quán trọ, nhờ chủ quán săn sóc rồi
trả hết mọi phí tổn.
Thầy Tư Tế, Thầy Lêvi chẳng những là người trong
đạo mà còn hơn nữa họ còn là kẻ rao giảng về đạo. Họ ở trong đạo nhưng không
sống đạo. Người Samari,kẻ sống đạo lại là người không có đạo.
Như thế kẻ vác đỡ thập giá cho Chúa trên con
đường dài với những bước chân xiêu té cuối đời là người ngoại đạo. Kẻ tỏ lòng
biết ơn khi được Chúa chữa lành là người ngoại đạo. Kẻ thể hiện lòng bác ái xót
thương không phải là Tư Tế, là Lêvi, các chức sắc trong đạo mà là người Samari,
người ngoại đạo.
Khi băn khoăn tự hỏi: thế nào là người bên
ngoài, thế nào là người bên trong ? Thế nào là có đạo, thế nào ngoại đạo ? Tôi
thấy trong Phúc Âm có lần Chúa Giêsu nói: Ta
bảo các ngươi, nhiều kẻ từ Phương Đông, Phương Tây mà đến và được dự tiệc với
Abraham, Isaac và Giacop trong Nước Trời, còn chính con dân trong nước lại sẽ
bị đuổi ra ngoài tối tăm.
Vậy thì có một khoảng cách rất lớn giữa hiểu
biết về đạo và sống đạo. Đạo thì mênh mông vô bờ bến như đất trời, làm sao có
thể đem đạo vào một định nghĩa chật hẹp được ? Làm sao có thể nhốt đạo vào nhà
thờ ? Làm sao vẽ chân dung đạo bằng tờ giấy rửa tội được ? Bởi lẽ “Đạo khả đạo phi thường Đạo” (Lão Tử)
Hiểu biết về đạo được thể hiện qua đời sống đạo.
Có người nói rằng: tôi tin đạo chứ tôi không tin người có đạo. Đạo thì tốt,
nhưng nhiều người có đạo lại xấu. Có nhiều người ngoại đạo lại tốt hơn người có
đạo. Họ nói như thế vì họ thấy nhiều người có đạo mà lại không sống đạo của
mình. Quả thật, con đường dài nhất là con đường từ cái đầu đến bàn tay. Giữa
suy nghĩ, lời nói và việc làm, giữa hiểu biết và cuộc sống có một khoảng cách
thật lớn.
Đức Khổng Tử đã nói chí lý: Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo.
Nghĩa là: đạo không xa cái bản tính của người ta, nếu theo đạo để cho xa cái
bản tính của người ta thì không phải là đạo.
Đạo của Chúa Giêsu là Đạo Thiên Chúa làm người,
rất gần gũi với con người. Vì con người là con đường của Giáo hội (Thánh Gioan
Phaolô II). Người Đông Phương lấy chữ nhân mà định nghĩa con người: nhân là
người, nhân là nhân ái là lòng thương người. Ai không biết thương người khác là
kẻ không xứng danh là người. Nhân bản và nhân ái có quan hệ mật thiết với nhau.
Qua dụ ngôn Chúa Giêsu kể, tôi thấy rằng, cái
khác biệt sâu xa giữa Kitô giáo và Do Thái giáo, đó là: một bên là đạo của tình
yêu, một bên là đạo của lề luật. Tư Tế và Lêvi tượng trưng cho tinh thần vị
luật của Cựu Ước. Người Samari tượng trưng cho những người sống tình yêu. Những
người tốt thì sống theo sự đòi hỏi của lương tâm hơn là của lề luật thành văn.
Thấy người bị nạn, người Samari tốt lành đã động lòng xót thương. Lương tâm và
tình thương đồng loại thúc đẩy anh cứu giúp người bị nạn đến nơi đến chốn bất
chấp nạn nhân là người Do Thái thuộc dòng tộc có hiềm khích với dòng tộc của
anh. Cung cách hành xử đầy tình thương này mới làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Nhìn từ lăng kính luật pháp Do thái, hai ông Tư
Tế và Lêvi đã không sai. Luật Cựu Ước dạy rằng, Tư Tế không được đụng vào thây
người chết vì sợ bị ô uế. Nếu ô uế thì không được phục vụ trong đền thờ. Nạn
nhân dở sống, dở chết, tức là có thể chết. Hai người Tư Tế và Lêvi không dám
chạm đến người có thể chết. Họ lựa chọn lề luật. Sách luật Lv 21 ghi rõ điều
khoản luật này khi nhắc đến Tư Tế và người chết. Người Samari lựa chọn bác ái.
Anh không ngại chạm đến người dở sống dở chết này. Anh chăm sóc, lo lắng cho
bệnh nhân như người thân và anh đã vượt quá giới hạn lề luật để sống theo bác
ái. Khi phải lựa chọn giữa lề luật và bác ái, người nhân hậu lựa chọn bác ái dù
biết các ràng buộc của lề luật. Người ấy không bỏ qua lề luật, không đả phá lề
luật nhưng vượt trên lề luật nên đã làm trọn lề luật.
Chúa Giêsu hỏi người thông luật:"Ai là người thân cận của nạn nhân đã sa vào
tay kẻ cướp?". Người ấy đáp: "Người
đã đem lòng từ bi thương nạn nhân".
Chúa Giêsu đã khéo léo lái vấn đề từ câu hỏi
người thông luật: ai là người thân cận của tôi ? sang gợi ý tuyệt vời của Ngài:
tôi là người thân cận của ai ? Trả lời câu hỏi này có lẽ phải đi từ cuộc sống
cụ thể của mình. Khi tôi đến gần ai để phục vụ với tình yêu thì tôi trở thành
người thân cận với kẻ ấy, và kẻ ấy thành người thân cận với tôi. Ai cũng có thể
trở thành người thân cận của tôi nếu tôi yêu thương họ bằng tình yêu mà Chúa đã
thương yêu tôi.
Càng hiểu biết về đạo càng phải sống đạo. Chúa
Giêsu dạy rằng: “Ai yêu mến Thầy sẽ giữ
Lời Thầy”. Đạo của Thầy Giêsu là Đạo Tình Yêu. Yêu Chúa, Yêu Người là hai
mặt của một tình yêu duy nhất. Yêu Chúa đích thực thì phải yêu người. Thánh
Gioan viết : “Ai nói mình yêu Chúa mà
không yêu người thì là kẻ nói dối”. Đối với Thánh Phaolô: “Yêu thương là giữ trọn lề luật”. Lề luật
không phải được lập nên cho người có tình yêu mà cho người không có tình yêu.
Nếu không có tình yêu thì việc làm theo lề luật có tốt đến đâu cũng vô giá trị:
“Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp
mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến thì
cũng chẳng ích gì cho tôi”. Thánh Augustinô khuyên nhủ: cứ yêu đi rồi muốn
làm gì thì làm. Tình yêu sẽ cho biết ta phải làm gì.
Tin Mừng hôm nay là
câu chuyện đẹp về tình yêu thương, sống đạo cụ thể. Người Samari nhân hậu đã
sống đức yêu thương cách tuyệt vời, đó là “yêu bằng việc làm”. Anh đã cho đi mà
không tính toán, không chờ đợi một lời cảm ơn nào, và có lẽ anh vừa đi vừa hát
bài ca hạnh phúc. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống và thực thi yêu thương: “Hãy
đi và làm như vậy”.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa dạy chúng con rằng: không phải những người cứ kêu lên “Lạy
Chúa, Lạy Chúa..” là được vào Nước Trời. Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của
Cha mới được vào mà thôi. Xin cho Lời ấy in vào lòng trí giúp chúng con
luôn biết thể hiện trong đời sống đạo hàng ngày. Amen
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
