SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỄ CHÚA HIỂN
LINH
Phụng Vụ Lời Chúa Lễ Hiển Linh
mời gọi chúng ta suy niệm về Giáo Hội, Bí Tích Hiệp Nhất toàn thể gia đình nhân
loại chung quanh Hài Nhi Giê-su, Đấng Cứu Thế của mình.
LỄ HIỂN LINH
Phụng Vụ Lời Chúa Lễ Hiển Linh
mời gọi chúng ta suy niệm về Giáo Hội, Bí Tích Hiệp Nhất toàn thể gia đình nhân
loại chung quanh Hài Nhi Giê-su, Đấng Cứu Thế của mình.
Is 60: 1-6
Ngôn sứ I-sai-a loan báo hình ảnh
vinh quang của Giê-ru-sa-lem mới, tiên trưng Giáo Hội: “Muôn dân muôn nước
sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà
tiến bước”.
Ep 3: 2-6
Thánh Phao-lô có sứ mạng loan
báo “mầu nhiệm giữ kín từ muôn thuở ở nơi Thiên Chúa” nay được tỏ lộ,
đó là muôn dân muôn nước trên khắp toàn cõi địa cầu đều được kêu mời họp thành
một dân tộc duy nhất là Giáo Hội, trở nên một thân thể duy nhất là Thân Thể mầu
nhiệm của Đức Giê-su Ki-tô.
Mt 2: 1-12
Được soi lối chỉ đường: từ một
hiện tượng thiên nhiên: ánh sao lạ, đến Lời Chúa, các nhà chiêm tinh, tiên trưng
Giáo Hội, đến thờ lạy Đấng Cứu Thế.
BÀI ĐỌC I (Is 60: 1-6)
Các ngôn sứ Cựu Ước đều đã công
bố chiều kích hoàn vũ của sứ mạng Giê-ru-sa-lem. Họ mở rộng những viễn cảnh của
dân Ít-ra-en ở bên kia chủ nghĩa quốc gia và nhấn mạnh ơn gọi của dân Ít-ra-en
phải là ánh sáng cho muôn dân.
Bản văn được chọn để cử hành lễ
Hiển Linh được trích từ tác phẩm của một trong các ngôn sứ nầy. Ông là vị ngôn
sứ vô danh, môn đệ của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (Is 40-55), vì thế người ta gọi
ông là I-sai-a đệ tam (Is 56-66). Ông thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình ở
Giê-ru-sa-lem giữa những năm 537-520, nghĩa là sau cuộc hồi hương trở về từ
cuộc lưu đày ở Ba-by-lon.
1. Vinh quang của Thành Đô Giê-ru-sa-lem mới (6: 1-2):
Ông loan báo một sứ điệp mạnh mẽ
và lạc quan để an ủi một cộng đoàn ngã lòng thất vọng.
Trước đây, cuộc hồi hương trở về
đã đem lại cho những người lưu đày một niềm phấn chấn vô bờ; nhưng khi đụng
chạm đến thực tế, họ mới vỡ mộng. Thành Thánh Giê-ru-sa-lem bần cùng, dân cư
thì thưa thớt, chẳng khác gì một làng quê. Cảnh Đền Thờ hoang phế trơ gan cùng
tế nguyệt ngót bốn mươi năm trường. Đất đai bị những người ngoại kiều, nhất là
dân Sa-ma-ri chiếm đoạt…Cuối cùng, những nổ lực tái thiết Đền Thánh phải dừng
lại dang dỡ.
Chính vào lúc ấy, một sứ điệp
vang lên để an ủi những ai mất can đảm: “Vùng lên! Bừng sáng lên !
Giê-ru-sa-lem hỡi!”. Làm thế nào phải thất vọng được chứ khi Thiên Chúa đã
tỏ mình ra cho họ được trở về quê cha đất tổ: “Vì ánh sáng của ngươi đến
rồi, vinh quang Chúa trên ngươi chiếu tỏa”. Những kẻ áp bức bị trừng
phạt: “Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân”. Cuộc hồi
hương nầy được ví như buổi bình minh. Thiên Chúa được sánh ví như vầng kim ô
chói lọi: “Còn trên ngươi, Chúa lại chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện
trên ngươi”. Những biến cố sau đó sẽ còn rực rỡ hơn nữa. Vì thế, vị ngôn sứ đưa
ra hai thị kiến chứa chan hy vọng.
2. Cuộc tụ họp vĩ đại (6: 3-4).
“Đưa mắt về tứ phía mà xem: ai
nấy đều tụ họp, kéo đến với ngươi, con trai ngươi từ phương xa tới, con gái
ngươi được ẵm bên hông.” Những con trai con gái nầy là những “cộng
đồng Do thái hải ngoại” , họ không bao giờ vắng bóng trong tâm trí của
ngôn sứ I-sai-a đệ tam. Thế nên, một truyền thống rất sinh động muốn rằng toàn
thể dân Ít-ra-en lại được thống nhất, đó phải là công trình của Đấng Mê-si-a.
Như vậy, sấm ngôn bao hàm hậu cảnh Mê-si-a.
Thế nhưng những đứa con đến từ
phương xa cũng là những đứa con của muôn dân muôn nước, họ sẽ chọn
Giê-ru-sa-lem như Thành Đô của mình, vì uy danh Thiên Chúa của thành đã quyến
rủ họ: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh
bình minh của ngươi mà tiến bước”.
3. Nguồn phú túc của chư dân sẽ đổ về Thành Đô (6: 5-6).
Thị kiến chứa chan hy vọng thứ
hai được nối kết với thị kiến thứ nhất: chư dân sẽ tiến dâng nguồn phú túc của
mình để phụng sự Thành Thánh: “Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà của
người Ma-đi-an và Ê-pha; hết thảy từ Sa-ba kéo đến, mang theo vàng với trầm
hương, và loan truyền lời ca tụng Chúa”. Những người Ma-đi-an, Ê-pha và Sa-ba
là những dân Á-rập. Tên Sa-ba gợi lên kỷ niệm của nữ hoàng xứ Sa-ba đến triều
yết vua Sa-lô-mon và dâng tặng cho vua nhiều quà tặng quý giá.
Thành đô Giê-ru-sa-lem sẽ không
còn sống trong cảnh lầm than, nhưng trong cảnh thịnh vượng. Thành Đô sẽ lại
vùng đứng lên từ những hoang tàn đổ nát, Đền Thánh sẽ được tái thiết để trở
thành nơi xứng đáng cho muôn dân lũ lượt kéo nhau đến tán dương chúc tụng Thiên
Chúa. Bức tranh muôn màu rực rỡ của vị ngôn sứ xem ra loan báo trước dáng dấp
của các nhà chiêm tin, tiên trưng muôn dân muôn nước đến tôn thờ Thiên Chúa
Ít-ra-en.
Vị ngôn sứ thoáng thấy điều mà
thánh Phao-lô sẽ gọi “mầu nhiệm giữ kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa”: muôn
dân muôn nước được quyền đồng thừa tự với người Do thái, dân của Lời Hứa (bài
đọc II). Thị kiến hùng vĩ về một cuộc tụ họp bao la chung quanh Thiên Chúa đích
thật chuẩn bị thị kiến của thánh Gioan trong sách Khải Huyền: thành thánh
Giê-ru-sa-lem tương lai là Thành Đô thiên quốc, được phác thảo trên trần thế
nầy là Giáo Hội.
BÀI ĐỌC II (Ep 3: 2-3, 5-6)
Thánh Phao-lô viết bức thư nầy có
lẽ trong cảnh xiềng xích ở Rô-ma vào những năm 61-63. Bức thư được gởi đến cho
các tín hữu Ê-phê-sô, và qua cộng đoàn Ê-phê-sô này, được chuyền đến cho các
cộng đoàn khác nữa ở miền Tiểu Á. Quả vậy, trong bức thư này, không có bất kỳ
lời chào thăm hỏi nào của vị thánh nhân dành cho các tín hữu Ê-phê-sô. Ấy vậy,
thánh Phao-lô đã trải qua ba năm trong thành này và đã để lại ở đây các môn đệ
và những bạn bè. Vì không có lời chào thăm hỏi đặc thù này, khiến người ta suy
ra rằng thánh Phao-lô muốn bức thư này phải được phổ biến rộng rải.
Những cộng đoàn miền Tiểu Á đa số
là những Ki tô hữu gốc lương dân. Thánh Phao-lô nhắc nhở họ ơn gọi tông đồ dân
ngoại của ngài. Nhiệm vụ của ngài là loan báo cho họ rằng không còn một dân tộc
hưởng đặc quyền đặc lợi nữa, vì muôn dân được chấp nhận đồng hưởng cùng một ơn
cứu độ như con cái Ít-ra-en.
1. Mầu nhiệm Đức Ki-tô:
Sứ điệp chính yếu của bức thư nầy
là “mầu nhiệm Đức Ki tô”. Qua từ “mầu nhiệm”nầy, thánh Phao-lô muốn
nói đến ý định ẩn kín từ muôn thuở ở nơi Thiên Chúa mà người ta có thể biết
được chỉ nhờ Mặc Khải mà thôi.
Theo thánh Phao-lô, dù thánh nhân
có học hỏi Kinh Thánh một cách thành tâm thiện chí mấy đi nữa cũng không thể
nào biết được ý định ẩn kín từ muôn thuở này, đó là vào kỷ nguyên Mê-si-a, dân
Ít-ra-en không còn được hưởng những đặc quyền nữa, đúng hơn những đặc quyền này
được trao ban cho hết muôn dân: muôn dân trở nên đồng thừa tự Lời Hứa.
Thánh nhân đã hiểu được Thiên Ý nhiệm mầu nầy chỉ nhờ ánh sáng của Đức Giê-su
soi lòng mở trí cho thánh nhân trên đường Đa-mát.
2. Dân thánh:
Từ trong cảnh giam cầm ở Rô-ma,
vào lúc cuộc đời xế bóng, thánh Phao-lô không quên liên kết sứ vụ Tông Đồ dân
ngoại của mình với tất cả các vị Tông Đồ và các nhà rao giảng khác (những người
mà thánh nhân gọi “ngôn sứ”), họ là những người đã lãnh nhận Thần Khí và thi
hành sứ vụ như ngài. Qua cách diễn tả “các thánh”, thánh nhân không gợi
lên sự thánh thiện nói riêng, nhưng chỉ chung tất cả mọi người Ki tô hữu. Xuống
vài hàng, thánh Phao-lô tự nhận mình là “kẻ rốt hết trong toàn thể dân
thánh”.
3. Vị Tông Đồ của dân ngoại:
Thánh nhân đã hiến dâng mọi sức
lực của mình cho ơn gọi này. Sách Công Vụ tường thuật thánh nhân đã nhiệt thành
thực hiện sứ mạng của mình biết là ngần nào: trèo non lặn suối, vượt núi băng
đèo, không quản ngại gian nguy. Chương 13 tường thuật một chi tiết điển hình:
sau bài thuyết giáo của thánh nhân ở hội đường An-ti-ô-khi-a, người Do thái
sinh lòng ghen tức…trong khi dân ngoại vui mừng tôn vinh lời Chúa.
Đó cũng là hai thái độ khác nhau
mà thánh Mát-thêu nêu bật trong hoạt cảnh “Các Nhà Chiêm Tinh đến triều
yết Chúa Hài Nhi”.
TIN MỪNG (Mt 2: 1-12)
Thánh Mát-thêu là vị thánh ký duy
nhất tường thuật biến cố “các nhà chiêm tinh đến yết kiến Chúa Hài Nhi”.
Ông đã giữ lại chuyện tích nầy vì nó xác minh một trong những chủ đề sách Tin
Mừng của ông. Chính quyền và Giáo quyền Giê-ru-sa-lem đã không nhận ra Đấng Cứu
Độ; vì thế, Thiên Chúa đã mở rộng con đường cho lương dân gia nhập Giao Ước,
bởi vì sứ điệp Tin Mừng cũng được gởi đến cho họ. Thật lạ lùng trong khi lương
dân đáp trả lời mời gọi, thì con cái của Lời Hứa quay lưng lại với Giao Ước.
Thánh Lu-ca tường thuật các mục
đồng đến chiêm ngưỡng và thờ lạy Chúa Hài Nhi, họ đại diện những người đơn sơ,
khiêm tốn, chân thành và nghèo khó. Trong khi đó, thánh Mát-thêu tường thuật
các nhà chiêm tinh từ đường xa vạn dặm đến triều bái Chúa Hài Nhi, họ đại diện
những người thông thái, giàu có. Những người đầu tiên là những thành viên của
dân Chúa chọn, trong khi những người thứ hai đến từ thế giới ngoại giáo. Hai
bức tranh tương phản nhưng bổ túc cho nhau.
1. Lên đường theo ánh sáng tự nhiên.
Chuyện tích của Mát-thêu rất phức
tạp và phân tích nó đòi hỏi biết bao công sức. Hai loại yếu tố được đan quyện
vào nhau ở đây: những yếu tố nầy thuộc những dữ kiện lịch sử, những yếu tố khác
do cách thức trình bày những sự kiện. Phương thức nầy được gợi hứng từ cách
giải thích Kinh Thánh của các kinh sư Do thái được gọi là “midrash”. Đây
là thể loại văn chương được thịnh hành trong những môi trường Do thái vào thời
Chúa Ki tô và vào thời Ki tô hữu gốc Do thái.
“Midrash” là phương thức kể
chuyện cốt yếu là tập hợp chung quanh một hạt nhân lịch sử những câu trích dẫn
Kinh Thánh, phóng đại vài chi tiết và hể có dịp nêu bật khía cạnh kỳ diệu của
chúng, để nhấn mạnh thiên ý của chúng. Phương thức midrash đặc biệt được tôn
vinh vào những phụng vụ lễ Vượt Qua: phương thức này làm cho những gợi ý của
quá khứ trở nên sống động hơn.
2. Hạt nhân lịch sử:
Chắc chắn phải có một “biến
cố thực” ở nơi nền tảng của chuyện tích Tin Mừng này. Rõ ràng thánh
Mát-thêu múc lấy những dữ kiện của mình ở nơi những kỷ niệm và truyền thống
Bê-lem, trong khi thánh Lu-ca quy chiếu nhiều hơn đến những kỷ niệm và truyền
thống Na-da-rét.
Mặt khác, những thủ bản Biển Chết
đã giúp khẳng định chuyện tích Tin Mừng. Trong số những thủ bản được khám phá,
người ta đã gặp thấy số tử vi của vị vua Mê-si-a được mong đợi. Như vậy, vào
thời Đức Ki-tô chào đời, người ta bận lòng muốn biết Đấng Mê-si-a sinh ra dưới
vị sao hộ mệnh nào, và trong vài môi trường Do thái, người ta tra cứu bầu trời
để khám phá vị sao hộ mệnh nầy xuất hiện, vì Đấng Mê-si-a chào đời khi vị sao
hộ mệnh của Ngài xuất hiện. Quả thật, các nhà chiêm tinh nói: “Chúng tôi
đã thấy vị sao của Người xuất hiện”. Vào thời này, khoa chiêm tinh rất phổ
biến.
3. Ảnh hưởng của phương thức midrash:
Trong chuyện tích Tin Mừng
Mát-thêu, ngôi sao được trình bày như một hiện tượng thiên nhiên. Nhưng xa hơn
một chút, thánh ký làm cho ngôi sao lạ thành một dấu hiệu: ánh sáng của ngôi
sao là lời kêu gọi mầu nhiệm soi lối dẫn đường cho các nhà chiêm tinh nầy.
Thánh vịnh không nói với chúng ta: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên
Chúa, không trung loan báo kỳ công Người. Ngày nầy mách bảo cho ngày tới, đêm
nầy truyền tụng với đêm kia. Không bằng ngôn ngữ ầm vang mà tiếng vang đã vang
dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới khắp chân trời góc biển” sao
(Tv 19: 2-5) ? Nếu chỉ cần suy nghĩ cách sâu xa biết bao biến cố xảy ra trong
đời thường là những ánh sao lạ thúc đẩy chúng ta lên đường đấy chứ.
4. Lai lịch của những nhà chiêm tinh đến từ Phương Đông:
Những nhà thông thái và giàu có
này là ai mà thánh Mát-thêu gọi họ là “các nhà chiêm tinh”?
Theo nghĩa đầu tiên của thuật
ngữ, từ “nhà chiêm tinh” chỉ các tư tế và là các vị cố vấn của các
vua Ba-tư. Về sau, tên gọi này bị dùng sai và được gán cho những người miệt mài
nghiên cứu khoa thiên văn và thuật chiêm tinh. Thánh Mát-thêu xem ra hiểu theo
ý nghĩa này. Họ đến từ Phương Đông. Thánh ký không tìm cách xác định, điều mà
thánh ký muốn nói: họ đến từ thế giới lương dân, điều cốt yếu là ở đó. Chắc
chắn họ không phải là các vua.
Làm thế nào các nhà chiêm tinh
này biết được số tử vi của “vua dân Do thái” mà nhận ra ngôi sao hộ
mệnh của Ngài xuất hiện? Nhiều người khác nghĩ rằng văn chương Do thái về Đấng
Mê-si-a đã được phổ biến một cách rộng rải trong các cộng đồng Do thái hải
ngoại, đó lời giải thích đủ.
5. Dừng chân ở Giê-ru-sa-lem.
Các nhà chiêm tinh đến
Giê-ru-sa-lem bởi vì chính “vua dân Do thái” mà họ tìm kiếm. Thánh
Mát-thêu chủ ý dùng tước hiệu nầy: đó là tước hiệu được ghi ở nơi bản án kết
tội của Đức Giê-su: “Người nầy là Giê-su, vua dân Do thái” (Mt 27:
37).
Sự xuất hiện của các nhà chiêm
tinh ở Giê-ru-sa-lem khiến vua Hê-rô-đê và triều thần bối rối. Điều nầy xem ra
cũng dể hiểu vì vua cùng triều thần nghĩ đến một đối thủ bất ngờ xuất hiện.
Nhưng cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao thì quả thật là lạ lùng. Tại sao dân
thành Giê-ru-sa-lem không vui mừng nhỉ? Đây là lời ghi nhận mang đậm nét Tin
Mừng Mát-thêu. Thánh Mát-thêu không thích Giê-ru-sa-lem, bởi vì dân thành nầy
đã lỗi hẹn gặp gỡ Đấng Cứu Độ mà họ trông đợi qua những lời loan báo của các
ngôn sứ. Qua việc cả dân thành Giê-ru-sa-lem xôn xao, thánh ký báo trước dân
nầy sẽ từ chối Đức Giê-su trong tương lai. Mặt khác, vào thời điểm thánh
Mát-thêu viết Tin Mừng của mình, những người Do thái chống đối cộng đoàn Ki tô
hữu rất dữ dội. Sự căng thẳng nầy có thể được nhận ra ở nơi những lời nhận xét
nầy: “Cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao”.
“Nhà vua triệu tập các thượng tế,
các kinh sư lại, và hỏi cho biết Đấng Ki tô phải sinh ở đâu”. Các thượng tế là
những lãnh tụ tối cao của Do thái giáo, còn các kinh sư là những chuyên viên
Kinh Thánh; vì thế, họ có thể trả lời cho các nhà chiêm tinh biết chính xác
Đấng Cứu Thế sinh ra ở đâu. Họ rất tự phụ về sự hiểu biết Kinh Thánh của mình,
nhưng họ không muốn đi xa hơn. Sự hiểu biết Kinh Thánh của họ đã soi lối chỉ
đường cho những người ngoại quốc xa lạ nầy đến với Chúa Hài Nhi, trong khi
chính họ và toàn thể dân thành Giê-ru-sa-lem từ chối đến với Ngài. Như vậy sự
quy tụ của những người ngoại quốc chung quanh vị vua Do thái vừa mới sinh nầy
xem ra là hình ảnh tham dự trước cuộc quy tụ vĩ đại của Giáo Hội đến từ muôn
dân.
Bản văn mà các kinh sư trích dẫn
là lời sấm của ngôn sứ Mi-kha (thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên) được thánh
Mát-thêu thay đổi một chút. Ngôn sứ Mi-kha viết: “Phần ngươi, hỡi Bê-lem
Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ
cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en …” (Mk 5: 1), trong
khi bản văn trích dẫn của Mát-thêu: “Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất
Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ
chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời”. Rõ ràng trong bản văn của mình, Mát-thêu
không trích dẫn nguyên văn lời sấm của Mi-kha, nhưng còn sửa đổi và thêm vào
bản văn của 2Sm 5: 2: “Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en, dân Ta…”.
“Bấy giờ Vua Hê-rô-đê bí
mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẻ về ngày giờ ngôi sao đã xuất
hiện” để xác định chính xác thời gian xuất hiện của Hài Nhi. Rõ ràng nhà
vua đã hoạch định mưu đồ hãm hại Hài Nhi rồi, nhưng với thái độ giả nhân giả
nghĩa, nhà vua nói với họ: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi,
và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái yết Người”.
Vài nét chấm phá trên đây phác
họa chân dung của nhân vật nầy sát với những gì các sử gia miêu tả về vị bạo
chúa nầy: tâm địa ngờ vực, thù hằn, mê tín dị đoan và tàn bạo đến điên cuồng
khát máu. Ông ra lệnh thảm sát vợ ông, bà Marianne, cùng nhiều người thân của
bà, ba người anh em họ và ba người con riêng của bà. Chính ông đã ra lệnh hành
hình nhiều người biệt phái trước công chúng. Cũng như ông truyền lệnh thiêu
sống mười bốn trẻ em để trả thù cho việc dân chúng đã phá đổ con ó bằng vàng mà
ông đã cho đặt trước Đền Thờ. Vì thế, đối với vị vua nầy, việc thảm sát các hài
nhi Bê-lem không có gì là không thể. Vì danh vọng và quyền lực người ta có thể
làm bất cứ điều gì dù mất đi nhân tính đi nữa.
Phải chăng việc các nhà chiêm
tinh dừng chân ở Giê-ru-sa-lem được khai triển theo cách thức giải
thích “Midrash” ? Chắc chắn một phần nào đó. Chúng ta đọc thấy cách
giải thích Midrash về cuộc chào đời của Mô-sê như sau: “Pha-ra-ô triệu tập
tất cả các nhà thông thái và triều đình …Toàn dân kinh hải…một hoàng tử triều
yết vua và tấu trình lên vua…một hài nhi sắp chào đời cho con cái Ít-ra-en. Xin
ra lệnh giết tất cả nam nhi…”
Đây là lời giải thích Midrash
trên đoạn văn sách Xuất Hành 1: 9-22. Phải chăng thánh Mát-thêu được gợi hứng
từ phương thức nầy? Hai hoàn cảnh tương tự như nhau thì rất rõ.
6. Lên đường theo ánh sáng Lời Chúa.
Chắc chắn cũng phải lưu ý đến
cách thức tô điểm midrash ở nơi việc tái xuất hiện của vị sao lạ nầy. Việc ngôi
sao lạ này lại xuất hiện có cần thiết không, bởi vì Kinh Thánh đã cho họ thông
tin chính xác về nơi sinh hạ của Hài Nhi rồi. Ấy vậy, làng nầy rất gần với
Giê-ru-sa-lem, cách khoảng 9 km. Vậy, ánh sao soi lối chỉ đường cho các nhà
chiêm tinh đến Bê-lem phải được hiểu theo văn mạch là “ánh sáng Lời Chúa”.
Quả thật, Thánh vịnh đã không nói với chúng ta: “Lời Chúa là ánh sáng soi
lối dẫn đường cho bước chân con đi” sao?
7. Gặp gỡ Ngôi Lời Thiên Chúa làm người.
Bấy giờ các nhà chiêm tinh gặp
thấy Hài Nhi không còn trong “hang lừa máng cỏ”nữa, nhưng
trong “nhà”. Một khoảng thời gian đã trôi qua giữa Hài Nhi chào đời và các
nhà chiêm tinh đến yết kiến: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà
Ma-ri-a…” Như vậy, theo dấu chỉ của Lời Chúa, họ đến triều bái chính Đấng
mà thánh Gioan tuyên xưng: “Ngôi Lời làm người và cư ngụ ở giữa chúng ta”.
Chính ở nơi Ngài mà Cựu Ước quy chiếu về và cũng chính ở nơi Ngài mà Cựu Ước
gặp thấy ý nghĩa tròn đầy của mình.
Chúng ta ghi nhận thánh Giu-se
không được kể ra ở đây. Điều nầy thật lạ lùng, vì cho đến lúc nầy thánh ký rất
chú ý đến những sự việc xảy ra cho thánh Giu-se. Việc không nhắc đến thánh
Giu-se ở đây có ẩn ý gì chứ? Phải chăng đây là dấu chỉ đầu tiên bày tỏ niềm tôn
kính dành cho Đức Trinh Nữ ở nơi cách nói “Hài Nhi cùng với thân mẫu của
Ngài” ?
Với tấm lòng tôn kính và quảng
đại Đông Phương quen thuộc, họ dâng tiến các lễ vật lên Hài Nhi bé bỏng mà họ
nhận ra ở nơi cái vẻ bên ngoài quá mức tầm thường nầy là một vị vua vừa mới
chào đời.
Các Giáo Phụ cố gắng giải mã ý
nghĩa của những phẩm vật nầy: vàng là phẩm vật cao quý được dâng tặng cho vua,
vì Hài Nhi nầy là vua; nhũ hương là hương liệu được đốt trên bàn thờ của các
thần linh, tỏa hương trầm nghi ngút, vì Hài Nhi nầy là Thiên Chúa; mộc dược là
một trong những dược liệu được dùng để ướp xác, vì Hài Nhi nầy sẽ thực hiện ơn
cứu độ trần gian bằng con đường Tử Nạn. Như vậy, qua ba phẩm vật đầy ý nghĩa
nầy, các nhà chiêm tinh tuyên xưng Hài Nhi Giê-su là vua, Thiên Chúa và cũng là
Đấng Cứu Thế.
Các nhà chiêm tinh từ phương trời
xa đến triều bái lạy Hài Nhi, như thế các sấm ngôn về Đấng Cứu Thế được ứng
nghiệm ở nơi Hài Nhi Giê-su nầy (Tv 72: 10-15; Is 60: 5tt; 49: 23; Ds 24: 17).
Người ta có thể nêu lên vấn đề
lịch sử tính của chuyện tích nầy, nhưng không ai có thể chối cãi đây là cuộc
hành trình tâm linh của chính Giáo Hội vốn từ muôn dân mà đến khởi đi từ con
đường mặc khải tự nhiên: một hiện tượng thiên nhiên, một biến cố, một hoàn cảnh
sống… đến con đường mặc khải siêu nhiên: Lời Chúa, để rồi cuối cùng gặp gỡ
chính Đấng là Ngôi Lời Thiên Chúa. Theo một cách nào đó, đây cũng là cuộc hành
trình tâm linh của mỗi người chúng ta.
LM INHAXIÔ HỒ THÔNG
http://www.kinhthanhvn.org/
